dimanche 29 juin 2014

Đôi điều về cái xứ sở Tân đảo (New Hebrides/Vanuatu)

Tưởng cũng nên nói thêm đôi điều về
Tân đảo (Vanuatu)




Người Phu mộ Việt nam trong một đồn điền trồng dừa ở Tân đảo


Jean Van Son - Vanuatu biên soạn và lên trang Blog



Lời nói đầu


Ghi lại những kỷ niệm, những sự kiện, những sự việc của một quãng thời gian dài trên dưới 60 năm qua không phải là một chuyện dễ. Nhất là những cái đó đều có mục đích mong muốn  nói lên  phần nào cuộc sống vô cùng khổ cực và tinh thần đoàn kết đấu tranh anh dũng giành quyền sống Tự do và Công bằng của các bậc cha mẹ, của các chú bác, của bà con phu mộ Việt nam tại Tân đảo đầu thế kỷ 20 vừa qua.
Từ trước đến nay cũng đã có rất nhiều bài viết về đề tài này. Cho nên những trang viết dưới đây chỉ có mục đích tham khảo, bổ sung thêm vào những sự việc đã được đề cập đến mà thôi.
Nhà báo Lam Phong tại TP Hô Chí Minh đã đi tiên phong trong việc  tìm kiếm  “dấu vết Người Chân đăng”, mở đầu cho “Ký sự Tân đảo” ra đời do  đài Truyền hình TSF Thành phố Hô Chí Minh cùng hợp tác với Sài gòn Tiếp thị và  một số cơ quan truyền thông khác thực hiện.
Cuốn phim “Ký sự Tân đảo” New Caledonia và Vanuatu đã ghi lại được một số hình ảnh và nêu lên được một số nét của việc thực, người thực về cuộc sống của những người chân đăng thời nô lệ, cũng như cuộc sống hiện tại của các thế hệ con cháu của họ hiện nay. 
Rất tiếc là các cụ phu mộ thế thứ nhất hiện đã đi xa hết cả. Chỉ còn lại con cháu thế hệ hai phần đông sinh sống tại Việt Nam và một số định cư rải rác ở Vanuatu, Tân Caledonia và các nơi khác trên thế giới.
Tân đảo là gì? Từ trước đến nay, nói chung người ta thường nghe nói Tân đảo là nơi mà rất đông người Việt nam đã tự nguyện đăng kí đi phu mộ, làm công nhân ở các đồn điền hoặc làm phu khai thác mỏ kền thời kì Pháp thuộc. Tân đảo trở nên nổi tiếng đối với người Việt ở đây. Bời vì trong suốt thời kì từ 1920 đến 1945, người ta đã gọi nơi này là xứ sở của nô lệ "da vàng"...

Vanuatu - Ngày xưa là Tân đảo (New Hebrides) ảnh internet.


Vậy Tân đảo ở đâu? Từ xa xưa người ta biết phân biệt đâu là Tân đảo (New Hebrides/Vanuatu) và đâu là Tân Thế giới (New Caledonia). Đến năm 1980 khi Vanuatu dành độc lập thì trên bản đồ Thế giới đã thay đổi. Cái tên New Hebrides (Tân đảo) không còn nữa và thay vào đó là Vanuatu.
Đến năm 1983, nước CHXHCN Việt nam thiết lập quan hệ ngoại giao với Vanuatu. Và trên bản đồ Thế giới của Việt nam đã ghi nhận chính thức New Caledonia là “Tân đảo”. 

New Caledonia nay là Tân đảo (Xưa là Tân Thế giới) ảnh internet.


Ngay cả bà con Việt kiều chính gốc sinh sống lâu năm và cả anh chị em sinh trưởng ở Tân đảo nữa, đến tận ngày bước chân lên con tầu Eastern Queen theo cha mẹ già hồi hương về Việt nam cũng chỉ biết sơ sơ một vài nơi trên mảnh đất quê hương thứ hai của mình mà thôi. Cho nên mong muốn của Văn là làm thế nào để tạo điều kiện giúp cho bà con hiểu thêm được ít nhiều về đất nước Vanuatu, cái nôi đã sinh ra chính mình...


Đảo IRIRIKI trong Vịnh Vila - trước có nhà thương ăng-lê nay là Đảo Du lịch sinh thái.


Có người nói thế này: bây giờ cái thế hệ thứ hai của tầng lớp các cụ chân đăng đều  đã trên dưới “thất thập cổ lai” rồi. Nhắc lại chuyện xưa chỉ tăng thêm nỗi buồn. Nhưng cũng có nhiều người muốn nhớ lại quá khứ, muốn  ôn lại kỉ niệm xưa bằng hình ảnh cho khuây khoả tuổi xế chiều, và thậm chí có khá đông anh chị em đã tạo điều kiện để trở về thăm lại cái nôi đã sinh ra mình....


Năm 2012-2013 đã có rất đông anh chị em VK từ Việt nam qua Noumea và Vanuatu thăm lại quê hương thứ hai của mình với một tình cảm thân thương, trìu mến.


Trên Thế giới, ngày nay nói đến Vanuatu (Tân đảo cũ) thì người ta biết ngay nó là một trong những viên ngọc đang bắt đầu tỏa sáng của vùng Nam Thái bình dương. Đặc biệt trong lĩnh vực du lịch. Vì đã lâu rồi người ta coi nơi đây là một trong những miền “Đất hứa” đang thu hút sự chú ý của nhiều nước.
Tân đảo đã trở thành nước Cộng hòa Vanuatu từ ngày 30 tháng 7 năm 1980. Nó cũng gắn liền với lịch sử hơn 100 năm đô hộ của người Pháp (1800-1905) và gần 80 năm dưới chế độ  đồng quản gọi là Công-đô-mi-nhôm (Condominium) của hai chính quyền Anh và Pháp trước đây (1906-1980).


Fernandez de QUIROS -  Nhà hàng hải Bồ đào Nha

Pedro Fernandez de Quiros (1563?-1615), navigator, was born at Evora, Portugal, but became subject to the King of Spain when the two countries were dynastically united in 1580. Quiros is the Spanish form of the name. He was a supercargo on Portuguese merchant ships and appears to have spent several years seafaring on the Pacific coasts of America. He was recognized as a competent and experienced navigator when in 1595 he was appointed chief pilot of an expedition of four ships under Alvaro de Mendaña setting out to colonize the Solomon Islands, which Mendaña had visited in 1567. They sailed from Callao, Peru, in April 1595 and in three months reached the Marquesas, which Mendaña at first thought were the Solomons. Quiros was most impressed by the natives, as was James Cook 180 years later; they were 'in all things so becoming that … nothing in his life ever caused him so much regret as the leaving of such fine creatures to be lost in that country'. However, they became importunate and many were killed, though Quiros thought 'such evil deeds' were 'not things to do, nor to praise, nor to allow, nor to maintain, nor to refrain from punishing if the occasion permits'.



Nhà hàng hải Luis de Torres và Pedro Fernandez De Quiros người Bồ đào nha tìm thấy đảo Santo lần đầu năm 1606, đặt tên là “Espiritus Sanctos” sau này gọi tắt là Santô để dâng tặng cho vua Bồ lúc bấy giờ. Một số từ ngữ như "Kalabus" nhà tù mà các cụ phu mộ gọi là ca-la-buột. Hay "Ta ta" = chào. "Pikinini" = trẻ con vân vân cũng xuất xú từ tiếng Bồ đao nhà.


Louis Antoine de BOUGAIVILLE  (1729-1811)


Louis-Antoine, Comte de Bougainville (12 November 1729 – 31 August 1811) was a French admiral and explorer. A contemporary of the British explorer James Cook, he took part in the Seven Years' War in North America and the American Revolutionary War against Britain. Bougainville later gained fame for his expeditions, including circumnavigation of the globe in a scientific expedition, the first recorded settlement on the Falkland Islands, and voyages into the Pacific Ocean. Bougainville Island of Papua New Guinea was named for him.


Sau đó, năm 1768 nhà hàng hải Pháp Louis Antoine de Bougainville đã phát hiện ra đảo Va-tê (bây giờ là Efate) và đặt tên thủ phủ lúc đó là “Franceville”.

Nhà hàng hải Anh James COOK

Captain James Cook FRS RN (7 November 1728[NB 1] – 14 February 1779) was a British explorer, navigator, cartographer, and captain in the Royal Navy. Cook made detailed maps of Newfoundland prior to making three voyages to the Pacific Ocean, during which he achieved the first recorded European contact with the eastern coastline of Australia and the Hawaiian Islands, and the first recorded circumnavigation of New Zealand.
Cook joined the British merchant navy as a teenager and joined the Royal Navy in 1755. He saw action in the Seven Years' War, and subsequently surveyed and mapped much of the entrance to the Saint Lawrence River during the siege of Quebec. This helped bring Cook to the attention of the Admiralty and Royal Society. This notice came at a crucial moment in both Cook's career and the direction of British overseas exploration, and led to his commission in 1766 as commander of HM Bark Endeavour for the first of three Pacific voyages.
In three voyages Cook sailed thousands of miles across largely uncharted areas of the globe. He mapped lands from New Zealand to Hawaii in the Pacific Ocean in greater detail and on a scale not previously achieved. As he progressed on his voyages of discovery he surveyed and named features, and recorded islands and coastlines on European maps for the first time. He displayed a combination of seamanship, superior surveying and cartographic skills, physical courage and an ability to lead men in adverse conditions.
Cook was attacked and killed in a confrontation with Hawaiians during his third exploratory voyage in the Pacific in 1779. He left a legacy of scientific and geographical knowledge which was to influence his successors well into the 20th century, and numerous memorials worldwide have been dedicated to him.

Năm 1774, James Cook nhà thám hiểm người Anh đã đi vòng quanh khu vực, tìm thấy cả một quần đảo và đặt tên là New Hebrides, vì ông thấy nó gần giống với vùng Hebrides quê hương ông tại nam Scotland. Năm 1886, Pháp tạm thời độc quyền thống trị Tân đảo. Đã xẩy ra những trận thuỷ chiến ác liệt giữa hai nước không phân thắng bại. 





Mãi sau này Anh và Pháp mới đi đến thoả ước thống nhất đặt lãnh thổ này ở vị trí trung lập. Và đổi tên thủ đô Franceville thành Port-Vila. Tới năm 1906, họ thống nhất  thiết lập chính quyền bảo hộ chung là Condominium.


Di tích của chính quyền đồng quản Condominium (1906-1980) (ảnh internet).


Năm 1811 nhà Hàng hải Nga Golovnin chỉ huy con tấu Kamchatka đã ghé thăm Tân dảo trong một chuyến đi  thám hiểm vòng quanh thế giới. Hình ảnh dưới đây là bức tượng đồng đen của nhà Hàng hải Golovnin được cắt băng khánh thành năm 2011 tại công viên Bãi trước (Sea Front ) thành phố Port Vila Vanuatu, kỉ niệm 200 năm Golovnin đặt chân đến vùng đất Tân đảo.


Tượng đồng nhà Hàng hải Nga GOLOVNIN tại Công viên Bãi trước ở Port Vila.


Năm 1825, Peter Dillon, một lái buôn Anh đã phát hiện và khai thác gỗ trầm hương (sandalwood) tại đảo Anatom gần Tanna. Năm 1860, việc buôn bán gỗ trầm hương đã trở thành thị trường tranh chấp, vì rất nhiều nước  lao vào cuộc chiến giành giật thưong địa.



1. Cây gỗ Trầm ở đảo Anetium.              2. Gỗ trầm khô


  

Vị trí của quốc đảo Vanuatu trong vùng Nam Thài bình dương (Internet)


Vanuatu là một quần đảo gồm  83 hòn đảo lớn nhỏ (trong đó có hai hòn đảo Mathew và Hunter phía nam đang bị Pháp tranh chấp),  trải dài hơn 900 km từ bắc xuống nam. Phía bắc gần giáp với quần đảo Solomon, phía nam cách đảo Niu Caledonia trên 500 km. Phía Tây cách Úc khoảng gần 2.000 km, phía Đông cách Fidji khoảng gần ngàn km.



 

Bản đồ quốc đảo Vanuatu (đảo lớn là Santo, Malekula và Efate) (Internet)




Đảo lớn nhất là Santô và Ma-la-ku-là. Thủ đô Port-Vila ở đảo Ê-fa-tê nhỏ bé, nhưng lại  là trung tâm chính trị và hành chính, đồng thời cũng là trung tâm văn hoá, du lịch và thương mại của Vanuatu.





Quang cảnh Vịnh Vila trước năm 1930. (internet)


Cách đây không lâu, Vanuatu đã được ghi nhận là một trong những nước có chỉ số hạnh phúc cao trên thế giới. Môi trường sạch, phong cảnh thiên nhiên đẹp và  hoang dã, người dân hiền hòa, mến khách có tuổi thọ cao và nói được tiếng Pháp, tiếng Anh. Những người thất nghiệp chưa thấy ai bị "chết đói". Đó là những yếu tố làm cho Vanuatu nổi tiếng thu hút khách du lịch. Vanuatu còn được mệnh danh là thiên đường thuế quan của vùng Thái bình dương (paradis fiscal du Pacifique).


Quang cảnh Thành phố Port Vila trong những năm trước và sau 1930. (internet)


Trình độ văn hóa của người dân Vanuatu thuộc lọai thấp, nhưng ngoài ngôn ngữ địa phương, hầu như người dân nào cũng biết ít nhất là một trong 3 thứ tiéng Anh, Pháp hoặc Bislama. Vanuatu là nước duy nhất trên Thế giới sử dụng  3 thứ tiếng chính thức   trong các văn bản của Nhà nước cũng như giao dịch trong nước và trên trường quốc tế.
 

1. Thổ dân vùng núi Big Nambas.    2. Thổ dân ăn thịt người (Ảnh internet)


Tuy vậy,  ngôn ngữ của các sắc tộc Vanuatu thì lại vô cùng phong phú. Chỉ  với số dân hơn 230 ngàn người, sống rải rác trên 80 hòn đảo, Vanuatu đã có tới hơn 120  ngôn ngữ, thổ ngữ khác nhau, trong đó có tiếng Việt, Tầu, Anh, Pháp, Indo v.v.. Người dân làng này không hiểu  tiếng nói của làng bên cạnh. Từ đảo này tới đảo kia lại càng có nhiều khác biệt hơn nữa. Bởi vậy, khi đặt chân lên mảnh đất này, người Anh đã thấy ngay được cái khó khăn lớn trong việc giao lưu tiếp cận. Họ đã tạo ra một kiểu ngôn ngữ phổ thông dùng tiếng Anh làm gốc gọi là “English pidjin”  tức là tiếng Anh bồi, gọi là tiếng Bislama.


1940. Đồn điền Cô-lạc-đô rộng lớn vươn tới tận chân đồi quanh thành phố. Internet.


Một số từ có nguồn gốc Bồ đào nha, thí dụ: Ka-la-bút (nhà tù) hoặc pi-ki-ni-ni (trẻ con), ta-ta (chào) v.v.... Một số từ tiếng Pháp và một vài từ tiếng Việt như "nem chaud" chả nem nóng, "ban quan" = bánh cuốn, "soupe pho" - phở, "nioc mam"= nước mắm, "mamtom" = mắm tôm v.v...   Sau đó người ta gọi loại ngôn ngữ này là “Bislama”, người phu mộ Việt nam gọi nó là tiếng đen. Nó trở thành tiếng phổ thông ở Tân đảo cũng như một số nước khác nằm trong vùng Nam Thái bình dương như: PNG, Solomon, Fidji v.v.. Người nào đến Vanuatu chỉ sau một thời gian ngắn là có thể nói được một số tiéng đen giao tiếp tức là tiếng Bislama.




Chậu và vại bằng đất nung  có độ tuổi khoảng 1.500 năm, được khai quật tại vùng đất trũng khu vực Tê-u-ma do các nhà khảo cổ học Niu Di-lơn tìm được. Bảo tàng Vanuatu.


Theo tài liệu lịch sử thì cách đây hơn 300 năm, khoảng  thế kỷ thứ 17 về trước, dân số ở Tân đảo rất đông. Ước chừng hơn một triệu người, thuộc giống người La-pi-ta từ phương Bắc di cư xuống. Nhưng đến thế kỷ 18 thì dân số còn khoảng sáu trăm ngàn người. Và đến cuối thế kỷ 18 sang đầu thế kỷ 19 thì dân số chỉ còn không quá 40 ngàn người. Song, từ khi có sự hiện diện của người da trắng đến nay, dân số người bản xứ đã tăng lên tới hơn 200 ngàn người.  



Chiến bình trên các vùng cao tại các đảo thế kỉ 18-19 (ảnh internet)


Nhưng tại  sao lại có sự hao hụt dân số trầm trọng như vậy? Có rất nhiều giả thiết. Theo nghiên cứu của các nhà truyền giáo (missionnaires),  nguyên nhân chính là do các bệnh dịch hiểm nghèo không có thuốc chữa. Ngoài ra,  do hậu quả của cuộc chiến tranh diệt chủng kéo dài giữa các bộ lạc (tribal), giữa các sắc tộc (ethnique), giữa các thế lực tập quán địa phương (customs hay coutumier) nhằm tranh giành đất đai, quyền lực. Đồng thời bị bắt ép đi làm ở các đồn điền mía ở Úc, Fidji. Làm phu mỏ kền ở Tân Thế giới v.v...


Thổ dân ở tân đảo bị bắt đi làm phu ở các đồn điền mía ở Fidji, Úc v.v... (internet)


Vừa qua, các nhà khảo cổ Úc và Tân Tây lan đã tìm thấy di chỉ của người La-pi-ta, khi họ khai quật vùng đất trũng ở Têu-ma. Những hài cốt và các mảnh vỡ của số đồ gốm và đất nung tìm thấy, đã chứng minh sự có mặt của con người ở Tân đảo từ những năm 1.300 dến 1.100 trước công nguyên. Bây giờ, ít ai nghĩ rằng ở Vanuatu hiện vẫn còn tồn tại những bộ lạc sống mọi rợ như mấy thế kỷ trước?

Thổ dân Big Nambas


Để thỏa chí tò mò, xin mời quý vị hãy quá bộ đến thăm các bộ lạc trên vùng núi Big Nambas  ở phía bắc Ma-la-ku-là và Smol Nambas ở phía  giữa đảo. Hoặc ở đảo Am-brym hay Tanna cũng vậy. Họ vẫn cởi trần đóng khố.  Nam giới thì  dùng một loại vỏ cây để bọc của quý, còn phụ nữ thì chỉ quấn quầy tết bằng sơ vỏ cây bu-rao để che thân dưới mà thôi. Nếu là  chiến binh thì  thường dùng đốt xương ngón tay người hoặc vòng răng lợn rừng, cho xuyên qua lỗ mũi để tăng thêm vẻ oai phong cho bộ mặt vốn dĩ đã dữ tợn của họ. Còn hai bên dái tai thường lủng lẳng hai chiếc vòng răng lợn lòi.

 
Thổ dân sinh sống ở trên cây hoặc trong hang hốc (Internet)


Họ vẫn dùng cung tên và cây lao để săn thú rừng hoặc săn bắt cá. Cho đến nay, các bộ lạc này vẫn từ chối việc đưa nền văn minh vào vùng đất của họ. Họ tự coi mình là con của Đất Trời, cho nên họ muốn sống tự nhiên như thời kỳ nguyên thủy. Họ không dùng diêm đốt lửa. Thông thường họ ủ than hồng trong đống tro trong nhà. Nếu chẳng may lửa bị tắt, thì họ dùng ngay một cây que vót nhọn và dùi vào thanh gỗ cho nóng lên, đến độ có thể đốt cháy bùi nhùi sơ dừa. Và thế là họ có lửa. Hiện nay, hàng năm cứ đến ngày kỷ niệm Tết Độc lập của Vanuatu 30/07 là  họ lại tổ chức cuộc thi nhóm lửa bằng gỗ theo tập quán cổ xưa như vậy    





Vanuatu có khoảng trên 10 tôn giáo khác nhau: Gia-tô, Jeova, John Frum, Evangelist, Assembly of God v.v...


Approximately 83% of the population of Vanuatu is Christian. An estimated 32% is Presbyterian, 13% Roman Catholic, 13% Anglican, and 11% Seventh-day Adventist.[1] Groups that together constitute 14% include the Church of Christ 3.8%,[2] United Pentecostal Church UPCIV Assemblies of God, and other Christian denominations.[1]
The John Frum Movement, a political party that also is an indigenous religious group, is centered on the island of Tanna and includes about 5% of the population.[1] The Baha'i Faith, Muslims, Buddhists, Jehovah's Witnesses, and The Church of Jesus Christ of Latter-day Saints (Mormons) also are active.[1] There are believed to be members of other religions within the foreign community; they are free to practice their religions, but they are not known to proselytize or hold public religious ceremonies.[1]
 


Đức Chúa trời là Cha của muôn loài. Nhưng thế hệ hậu duệ bị phân rẽ...


Phong tục tập quán ở Vanuatu cũng cực kỳ đa dạng. Họ tôn thờ thần rùa, rắn, cây cối, thần đất, thần biển, thần núi lửa v.v.. Tín ngưỡng ở Vanuatu rất đặc biệt. Từ cuối thế kỷ 19 sang đầu thế kỷ 20, ngoài đạo John Frum ở Tanna tôn thờ một người tiên tri da trắng, thì các đạo khác đều theo đạo Gia-tô tôn thờ chúa Giê-su. Có tất cả khoảng trên 10 tổ chức đạo khác nhau như: Anglican, Témoin Jeovah, Assembly of God, Temple of Jesus, Seven days, Evangelist, Christian v.v.... Đạo lớn nhất vẫn là đạo thiên chúa (christian). Ngoài ra phải kể đến các kiểu bùa ngải vẫn còn đang tồn tại trong dân đảo Am-brym. Có nhiều chuyện nghe kể rất đáng quan ngại.
         

1. Thờ Thần đất   2. Thờ giáo phái J. Frum.   3. Thiên Chúa giáo


Di sản văn hoá của Vanuatu

Về di sản văn hóa  nổi bật nhất là các hài cốt của tù trưởng Roi Mata và các bà vợ của ông đào được ở đảo Eratoka,  tức đảo "cái mũ" hay "Hat island" gần đảo Lelepa  đã được UNESCO công nhận và xếp hạng là di sản văn hóa độc đáo. Thế kỷ thứ 13, Roi Mata là một tù trưởng quyền thế nhất đã thôn tính hầu hết các đảo lân cận. Cuộc thôn tính này nhăm mục đích chấm dứt chiến tranh giữa các bộ tộc, mang lại hoà bình cho toàn bộ vùng đảo. Nhưng sau này đã bị người em ruột hạ sát bằng thuốc độc. Ngôi mộ của Roi Mata chôn ở trong hang lớn của đảo đã được nhà khảo cổ người Pháp khai quật năm 1967. Mãi đến năm 2008, công trình khảo sát của José Garranger mới được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới. Số đăng ký mang ký hiệu 1380.

  

1. Bản đồ Vương quốc Roi Mata.  2. Đảo Hat Island.  3. Hình tượng Tù trưởng Roi Mata.


UNESCO còn công nhận một di sản văn hoá cỏ truyền khác. Đó là nghệ thuật vẽ hoa văn trên nền cát theo trí tưởng tượng. Các nhà nghiên cứu phát hiện ra đây là loại thông tin dùng để giao lưu trong khu vực từ thời xa xưa còn tồn tại. Khi vẽ, nghệ nhân phải giải thích được ý nghĩa của từng đường nét của hoa văn bằng tiếng thổ dân, hay tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Bislama. Thông thường thị họ nói tiếng Anh hoặc Bislama.


        

Nghệ thuật vẽ trên cát của Vanuatu (ảnh internet)


Cái đặc trưng trong nghệ thuật vẽ trên cát là đường nét không được đứt quãng, trừ những đường vẽ hình học làm nền ban đầu.

Các motif trên hình vẽ đều nêu lên các nét sinh hoạt đời thường. Nhưng nó cũng có thể là một loại thông tin. Thí dụ: Xin chào! Tôi đã đến nhà bạn nhưng không gặp. Rất tiếc! Và nó cũng có thể là một bản vẽ trang trí như hình vẽ con chim hay con rùa v.v...



Hình ảnh Thể thao - Du lịch tại Vanuatu.


        

       

     

Dưới đây là Hình ảnh thành phố Port Vila ngày nay



1. Khách sạn Grand Casino.    2. Cầu tầu đảo Du lịch sinh thái IRIRIKI.



1. Bến Du thuyền câu cá thể thao.    2. Toà Thị chính Port Vila.



1. Một khu nhà tầng phố de Paris.   2.  Ngân hàng Dự trữ  Vanuatu.



1. Ngân hàng Dự trữ của Vanuatu.    2. Đảo Du lịch IRIRIKI



1. Chiêm ngưỡng vẻ đẹp của vầng quầng Halo.    2. Lạp-lạp Vanuatu ngon nổi tiếng.



1. Siêu thị điện tử máy ảnh PROUDS.    2. Vịnh Vila thơ mộng



1. Tầu Du lịch tại cảng IFIRA.       2. Bia đài tưởng niệm Thế chiến



Bình minh toả sáng buổi  ban mai và Hoàng hôn rủ bóng khúc chiều tà.


Xin mời quý vị bấm vào link dưới đây để nghe bài hát về Vanuatu:
Vanuatu blong mi

Tác giả Blog xin chân thành cảm ơn tất cả các vị độc giả đã xem và chia sẻ, mong muốn nhận được nhiều ý kiến đóng góp, phê bình của mọi người.
Để biết thêm về tình hình Vanuatu bằng hình ành, xin mời quý vị bấm bào link này:










 

6 commentaires:

  1. Quả là kỳ công!
    Mất rất nhiều thời gian cũng như kiến thức cần có để viết nhưng viết đúng chỉ có người đang sống ở đó là viết đúng bởi được kiểm chứng ở thực tại! Vô cùng cám ơn anh Nguyễn Văn Đại!

    RépondreSupprimer
  2. Bạn Hoàng Việt Quân thân mến,

    Rất hân hạnh được ban ghé thăm với lời bình tốt đẹp. Vừa có tính chất động viên lại vừa khích lệ.
    Xin chân thành cảm ơn và chúc bạn luôn vui khoẻ, may mắn.

    RépondreSupprimer
  3. Ngoài "quốc tế ngữ" Ba - Má / Papa - Mam / Dad - Mum v.v... có lẽ do các thế hệ Bé / Babby nối tiếp nhau đời đời ..."sáng tác" ra và vô số các các từ khác mượn của Pháp như xà phòng, khăn mùi xoa, ghi - đông v.v...trước đây còn nghe cả tiếng Ý nói "Cíao" giống như "chào" trong tiếng Việt.

    Cũng như đồng bào mình ở trong nước, ở TTG và TĐ các Cụ CĐ minh cũng đãcòn "sáng tác" thêm biết bao từ để lắp vào "hoàn chỉnh tiếng Tây" nữa nhưng đọc bài này của anh Đại mới rõ từ "ca-la-buột" (đi tù - Ka-la-bút ) và "tà-tà" (chào - bye bye) các cụ mình hay dùng trước đây là có nguồn gốc tiếng Bồ đào nha.
    Thật là thú vị !

    RépondreSupprimer
    Réponses
    1. Xin cảm ơn bạn Minh Giao đã xem và chia sẻ.
      Chúc bạn và gia đình luôn vui khỏe và hạnh phúc.

      Supprimer
  4. Commentaires des lecteurs et lectrices sur FB:

    Ha Noi
    Ha Noi: Rất cảm động khi đọc bài về các cụ Chân Đăng, về Tân Đảo và New Caledonia, cám ơn bác Van Jean

    Lành Trương
    Lành Trương Tân đảo bây giờ đẹp qúa, hiện đại , sang trọng . Nhìn vào những bức ảnh nhiếp ảnh gia Jean tái hiện lại rất sinh động cứ như ttong mơ cùng với những lời tâm sự chân tình nói lên tự đáy lòng đầy cảm xúc, rành rẽ, dễ hiểu. Cảm ơm anh nhiều.

    RépondreSupprimer
  5. Anh Văn kính mến,

    Trước hết là xin cảm ơn các bài viết rất hay về người Việt tại Tân Thế Giới và Tân Đảo, sau là cũng xin bổ túc cho vài thông tin liên hệ cho các bài viết thêm chính xác. Trong bài viết "Tưởng cũng nên nói thêm đôi điều về Tân đảo (Vanuatu)" dimanche 29 juin 2014 trang này , anh có viết là "Một số từ có nguồn gốc Bồ đào nha, thí dụ: Ka-la-bút (nhà tù) hoặc pi-ki-ni-ni (trẻ con), ta-ta (chào) v.v...." (hết trích). Theo các dữ liệu tôi đã đọc qua thì

    1. Ta ta (~ au revoir) có gốc từ tiếng Anh: bên Úc vẫn dùng thường để chào tạm biệt - cũng dùng ở bên Anh, Tân Tây Lan để chào. Có vài dạng khác như "na na" (phụ âm đầu lưỡi t hoán chuyển cho n: ta > na). Anh có thể đọc thêm chi tiết trong bài viết của LM Patrick O' Reilly "Le français parlé en Nouvelle-Calédonie, apports étrangers et vocables nouveaux, archaïsmes et expressions familières" (1953)

    2. Ka-la-bút (nhà tù) có gốc từ tiếng Tây Ban Nha (Espagnol/Spanish): nhà tù tiếng Bồ-Đào-Nha là cadeia, prisão, masmorra, cela, preso (tù nhân) hay calabouço (nhà giam). Tiếng Tây Ban Nha calabozo là nhà tù, động từ là encalabozar; tiéng Pháp là calabouse so với tiếng Anh calaboose, tiếng Chuuk (Chuukese) là kanapus (phụ âm l > n), Tok pisin là kanabus so với cách đọc ka-la-bút và dạng kalabus (tiếng Bislama).

    3. pi-ki-ni-ni (pickinniny, pickaninny hay picaninny, piccanin/Úc, pickny/Caribbean ...) ở Bắc Mỹ chỉ đứa bé da đen (gốc Phi châu). pikinini là trẻ con (child) trong tiếng Bislama! Có thể có gốc từ tiếng Bồ-Đào-Nha pequenino nghĩa là nhỏ bé.

    Vài hàng cùng chia sẻ với anh Văn,

    Nguyễn Cung Thông

    Melbourne (Australia)

    RépondreSupprimer